DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 22/10/2016
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 18/04/2016
 
  Cập nhật ngày: 25/03/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 3  
  Số lượt truy cập: 19223  
     
  Untitled Document
   
 
  Dựng lại Chánh pháp
• PHÁP TU THIỀN XẢ TÂM (09). Thầy Thích Bảo Nguyên.  
Cập nhật ngày : 09.03.2017 (Đã đọc : 172 lần )

HÃY VƯT QUA CHÍNH MÌNH

Bài do Nhật Vy ghi chép từ đường dẫn sau:
https://soundcloud.com/thichbaonguyen/hay-vuot-qua-chinh-minh

Trước đây đức Phật đã dạy ba điều: “Bước tới thì trôi dạt, đứng lại thì chìm xuống, chỉ có vượt qua”. Ý nghĩa lời dạy này là các pháp tu Phật tựu trung lại: “Chỉ có vượt qua”.

Điều thứ ba: “Chỉ có vượt qua”, người phật tử dùng phương pháp Như lý Tác ý, pháp Tứ Vô lượng tâm để vượt qua biển nghiệp sanh tử của mình, giống như là chiếc thuyền mình vượt sông, vượt biển đến bờ bên kia.

Chánh pháp của Phật cũng vậy, pháp là phương tiện, là chiếc thuyền để giúp mình vượt biển nghiệp sinh tử. Từ trước chúng ta đã huân tập nghiệp sinh tử phiền não tham, sân, si nhiều đời nhiều kiếp rồi, cho nên cái thân bây giờ là thân gánh chịu nghiệp lực nhân quả, sinh ra là khổ rồi, sinh ra là do nghiệp mình đã tạo rồi.

Cho nên Phật dạy: “Chúng sinh là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp”. Tức là mình kế thừa nghiệp tham, sân, si, mạn, nghi của mình trong quá khứ, sinh ra là mình đã chịu nghiệp này, vì nghiệp này mà nó làm mình khổ.

Trong chân lý Tứ Diệu Đế, Phật gọi là nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân của khổ là do lòng tham, sân, si; do tham, sân, si này làm cho mình đau khổ, phiền não mãi. Sự thật khổ là do nguyên nhân mình đã tạo. Còn mọi nhân quả xấu tốt xảy ra người này ghét mình, người kia thương mình chẳng qua đó là duyên nợ nhân quả. Khi đủ duyên thì nó hợp, hết duyên thì tự nó tan.

Phật dạy: “Không có gì là ta, là của ta, là tự ngã của ta”. Các pháp vô thường, tự nó sinh rồi tự nó diệt. Giống như cái hoa, sáng nở, chiều tàn, đâu còn lại gì mà mình chấp nó.

Mọi nhân quả của ta cũng vậy, người này tốt, người kia xấu, người này đối xử với mình tốt hoặc đối xử với mình không tốt, tất cả là duyên nợ nhân quả; nhân quả này cũng vô thường, chuyện gì đến rồi cũng sẽ tan, chẳng có gì là của mình cả. Nhưng mà do chúng ta bị kẹt.

Kẹt cái gì? Kẹt trong cái gọng cùm kiết sử phiền não tham, sân, si của mình, chính nó làm mình khổ. Con người khổ là lý do đó. Vì vậy trong kinh đức Phật có dạy ý này: “Tâm một người còn phiền não tham, sân, si, mạn, nghi thì như cây yếu trước gió. Cái cây đó, chỉ một cơn gió thoảng qua thì nó sẽ lung lay, chao đảo liền.

Cũng vậy, tâm chúng ta còn chấp ngã phiền não tham, sân, si, mạn, nghi; còn dung dưỡng các ác pháp này trong lòng thì mình còn khổ, rất khổ. Khi gặp ác pháp như người ta đến chửi mình, nói xấu mình đủ thứ thì ngay tức khắc tâm mình khởi lên phiền não, buồn bực, bất an.

Từ trước giờ phật tử có bị tâm đó không? Tâm đó là tâm ác, tâm đó đức Phật ví “Như cây yếu trước gió”.

Khi tâm ta còn phiền não thì một ác pháp nhỏ xảy ra là dao động liền, chao đảo liền, rồi sinh ra nhiều ác pháp. Cho nên Phật nói tâm của người còn tham, sân, si thìNhư cây yếu trước gió. Còn người biết vượt qua, biết ngăn ác diệt ác, diệt trừ phiền não tham, sân, si, mạn, nghi; hàng ngày siêng năng tinh tấn để diệt trừ phiền não trong tâm thì đức Phật nói tâm của người ấy Như đá tảng kiên cố”.

Tâm của người tinh tấn lực, siêng năng hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác thì bất cứ một ác pháp hay nhân quả xấu nào đến là nó Như lý Tác ý liền, tác ý xả các ác pháp đó. Không dung dưỡng một niệm phiền não nào, một giây phút nào trong tâm thì Phật nói tâm của người ấyNhư đá tảng kiên cố.

Mình thấy cục đá nó sừng sững như núi, dù gió cấp 11, cấp 12 có thổi cục đá này bay được không?

- Không thể được.

Cho nên Phật dạy: Người biết tu tập, biết gạn đục lắng trong bằng pháp Như lý Tác ý thì dù ác pháp đến như bão, như sóng mà tâm của vị ấy vẫn Như đá tảng kiên cố, không còn dao động, không còn lung lay. Tâm vị ấy không còn phiền não, đau khổ trước bất cứ nhân quả gì xảy ra, luôn tự tại, luôn bất động.

Như vậy đức Phật dạy: Tâm chúng ta có hai điều kiện, nếu mà tâm này còn dung dưỡng các kiết sử phiền não tham, sân, si, mạn, nghi thì tâm dễ bị dao động “Như cây yếu trước gió”, chỉ cần một cơn gió thoảng thoáng qua là nó đã lung lay dao động liền tức khắc. Chỉ cần nghe người ta nói một câu nói không vừa lòng là sinh tâm giận người này, tự ái người kia.

Trước đây phật tử có bị như vậy không? Hôm nay Thầy nói như thế thì từ nay mình còn dám chứa chấp những phiền não ấy trong tâm nữa không? Hết rồi phải không?

Bây giờ mình có vũ khí của Phật rồi, có gươm trí rồi, (trong kinh Phật gọi pháp xả tâm là gươm trí). Đó là vũ khí Phật dạy chúng ta. Dùng cái gươm trí này, pháp Như lý Tác ý, pháp Tứ Vô lượng tâm để quét sạch giặc phiền não của mình. Bất cứ một ác pháp phiền não nào đến thì lập tức mình lấy cái gươm trí, cái pháp Như lý Tác ý này để ngăn, diệt tức thời.

Ví dụ: Gặp hoàn cảnh gia đình đang xảy ra chuyện ưu phiền, đủ thứ chuyện xấu thì mình dùng gươm trí (tác ý xả) rằng: “Thôi, đó là duyên nợ nhân quả của ta, trước sau gì nó đã xảy ra rồi, nhân mình tạo, bây giờ đủ duyên thì quả trổ, mình hãy biết hoan hỷ bằng lòng chấp nhận sự thật nhân quả khổ này, nhân quả này  vô thường, chuyện gì đến rồi nó cũng sẽ tan, nó sẽ đi thôi”. Khi dùng gươm trí Như lý Tác ý để quét trừ phiền não tâm của mình thì lập tức phiền não, oán hờn, sự trách móc, tủi thân, mặc cảm, than thân trách phận sẽ đoạn diệt tức thời.

Như lý Tác ý là pháp để quét tâm, thanh lọc tâm, gạn đục lắng trong tâm chúng ta. Nó giống như ly nước này, chúng ta muốn ly nước sạch thì hãy lọc nó. Cũng vậy, tâm mình muốn cho nó trong sạch, thanh tịnh không còn cấu uế phiền não tham, sân, si, mạn, nghi thì phải có phương pháp để thanh lọc nó, để tẩy rửa nó.

Vậy phương pháp thanh lọc này là gì?

- Đó là pháp Như lý Tác ý.

Chúng ta theo con đường tu tập giải thoát Phật dạy mà không thực hiện đúng pháp hành Như lý Tác ý thì không bao giờ diệt khổ được. Dù mình có tu bất cứ pháp môn gì, hành trì pháp gì mà không thực hiện đúng pháp Như lý Tác ý thì không bao giờ tẩy rửa phiền não được.

Và khi tu pháp này, đức Phật dạy chúng ta hãy tinh tấn lực. Trong Ngũ căn Ngũ lực, Phật gọi là Tinh tấn lực. (Trước đây Thầy đã giảng bài Ngũ căn Ngũ lực, quý sư cô phật tử về nghe lại).

            Ngũ căn gồm có:
            - Tín căn
            - Tấn căn
            - Niệm căn
            - Định căn
            - Tuệ căn.

            Ngũ lực gồm có:
           - Tín lực
           - Tấn lực
           - Niệm lực
           - Định lực và
           - Tuệ lực.

Tín căn là gì? Là lòng tin. Lòng tin ở đây là gì? Là lòng tin vào đức Phật. Mình tin vào những điều Ngài dạy, những điều Ngài sống, những điều Ngài tu tập đúng con đường Bát chánh đạo, từ nay mình phải đặt lòng tin vào Phật. Đó là tín căn.

Tín lực là gì? Là mình thực hiện lòng tin này để vượt qua tất cả mọi nhân quả của mình. Dù bất cứ nhân quả gì xảy ra, mình luôn nghĩ nhớ về những đức hạnh của Phật. Phật đã dạy:

            “Đệ tử Gotama
            Luôn luôn tự tỉnh giác
            Bất luận ngày hay đêm
            Thường tưởng niệm Phật đà”.

Nghĩa là trong bất cứ hoàn cảnh nhân quả sóng gió nào xảy ra mà trong tâm mình nghĩ nhớ rằng nếu sống như tâm Phật (tứ vô lượng tâm), hành động như Phật, nói những lời như Phật thì mình không còn khổ đau. Mình phải đặt trọn lòng tin này để vượt qua nhân quả. Đó là tín lực.

Trước đây quý phật tử đã thực hiện pháp tín căn, tín lực chưa? Hay khi nhân quả đến thì mình chỉ biết theo ma, hầu hết là theo ma phải không? Bởi mình đã theo Phật đâu. Nhân quả xấu đến là cứ phiền não, đau khổ, than thân trách phận rồi tránh né nó nữa.

Tránh né nó ra sao? Là lên điện Phật, lạy Phật phù hộ cho con tai qua nạn khỏi. Đó là tránh né nhân quả, mình có dám vượt qua đâu. Khổ chút xíu là than trách, rồi đem cái cục phiền não đó trước bàn thờ Phật xin Phật phù hộ cho tai qua nạn khỏi. Tâm đó là đang phiền não với ai? Là mình phiền não với Phật.

Trong khi đức Phật dạy: “Các con hãy vượt qua, biết hỷ xả lòng, biết kham nhẫn vượt qua nhân quả, nhân quả này nó vô thường. Bây giờ gặp người xấu, người ta hại mình, nhân quả này nó sẽ tan thôi, đâu có gì thường nên chấp nó làm chi. Giờ các con đến đây van xin Ta cho mình hết khổ thì đâu có được, chính cái tâm hèn nhát đó mà khổ các con cứ khổ mãi” (1)

Chúng ta chưa giải quyết được cái khổ của mình. Cho nên Phật dạy chúng ta phải vượt qua, phải đặt lòng tin vào lời Phật dạy.

Ngày xưa đức Phật cũng vượt qua nhân quả, Ngài đã chiến thắng ma vương. Mà chiến thắng ma vương bằng pháp nào? Đó là pháp Như lý Tác ý.

Trong 49 ngày đêm tu tập dưới cội cây bồ đề thì những kỷ niệm, ức niệm thời quá khứ khi còn là hoàng tử, Ngài phiền não với ai, tham sân si với ai, dục vọng điều gì nó hiện khởi ra trong tâm tất cả. Những phiền não, dục vọng ấy Phật gọi là ma vương.

Chính cái kiết sử phiền não tham, sân, si trước đây đức Phật đã huân tập nó, bây giờ nó khởi ra những niệm bất thiện. Khi nó khởi ra những niệm xấu đó thì đức Phật Như lý Tác ý liền. Ngài tác ý rằng: “Thôi, trước đây Ta vì vô minh, si mê, Ta hành động theo ngươi, bây giờ Ta biết ngươi rồi, Ta không chạy theo ngươi nữa đâu. Tâm Ta bất động trước ngươi, ngươi hãy đi đi, Ta không sống theo ngươi nữa đâu.”

Và khi Ngài Như lý Tác ý như vậy thì không còn bị phiền não với những niệm bất thiện đó nữa, tự nó tan biến ngay liền. Ma vương đến đây là biến mất ngay liền.

Cũng vậy, chúng ta có lòng tin vào chánh pháp, có lòng tin vào những gì Phật đã tu tập, Phật nhờ Như lý Tác ý mà diệt trừ phiền não tham, sân, si, mạn, nghi. Cho nên bất cứ ác pháp gì xảy ra mình phải có tín lực, mình phải tin chắc rằng: nếu mình sống như Phật, hành như Phật, xả tâm như Phật thì sẽ giống như Phật. Lúc này đừng sợ hãi điều gì dù cho cái thân này bị ác pháp đến tận cùng, có chết chăng nữa, bỏ luôn, ta không sợ hãi trước ác pháp này. Nhờ dũng lực đó, nhờ tín lực đó, mà chúng ta vượt qua biển nghiệp sinh tử của mình.

Còn những nhân quả này, đức Phật dạy khi nó sinh ra thì nó sẽ tự hoại diệt, không có gì là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Thế giới ma quân này là pháp vô thường, tự nó sinh rồi tự nó diệt. Mình đừng chấp ngã theo nó, đừng hành động tạo tác theo nó thì khổ ngay đây là đoạn diệt sạch. Cho nên chúng ta muốn diệt trừ phiền não thì phải có tín lực.

Nếu không có tín lực, đụng chuyện gì khổ xíu là van xin, nhờ Phật phù hộ cho mình tai qua nạn khỏi. Như vậy là mình có tín lực không? Tâm đó không bao giờ có tín lực được. Chính cái tâm hèn nhát đó mà khổ cứ khổ mãi, vì không có tín lực cho nên ác pháp nó cứ tấn công mình mãi, không dừng lại được, và tâm mình càng như cây yếu trước gió. Nếu không rèn luyện tín lực thì đạo lực không bao giờ có, dũng lực chúng ta cũng không bao giờ có. Vậy mà trước đây chúng ta đã từng nghe rất nhiều về bi, trí, dũng.

Chúng ta lúc nào cũng sợ hãi nghiệp quả, lúc nào cũng bất an nó, không chịu vượt qua nó thì không bao giờ có dũng lực được. Trong ngũ căn ngũ lực đức Phật gọi là tín lực.

Tín lực là gì? Là chí khí, là sự quyết tâm, nương vào những điều Phật dạy để mình chiến thắng với ma quân, chiến thắng với giặc sinh tử, chiến thắng với kẻ thù tiền kiếp của mình. Kẻ thù là vô minh, là tà kiến chấp ngã tham, sân, si, mạn, nghi. Phải dùng tín lực, dũng khí để quyết tâm chiến thắng với kẻ thù là chính mình. Phải nương vào các pháp hành trợ đạo, pháp Tứ Vô lượng tâm để hóa giải kẻ thù tiền kiếp của mình là vô minh, chấp ngã, tham, sân, si, mạn, nghi này.

Thầy nhắc câu chuyện trong kinh Phật dạy:

“Đức Phật có một vị đệ tử (tỳ-kheo Vakkali), vị này xuất gia theo Phật nhưng mà ít gặp Phật lắm, do tuổi già sức yếu không du hành theo Phật được, ngài ở một chỗ, cũng không có dịp nào để gặp Phật đảnh lễ, thưa hỏi Phật. Nhưng vị này có lòng tin Phật, lúc nào cũng thực hành đúng lời Phật dạy. Vị này sống đúng thánh giới, thánh định, thánh tuệ, không vi phạm bất cứ lỗi lầm nhỏ nhặt nào trong đời sống phạm hạnh. Do có lòng tin như vậy, nên vị này luôn được an lạc, giải thoát. Nhưng vị này có một điểm là trong lòng lúc nào cũng mong muốn được gặp đức Phật để đảnh lễ Ngài.

Trong lòng vị tỳ-kheo Vakkali, lúc nào cũng mong muốn, ước muốn đến để gặp Phật, đảnh lễ Phật. Một ngày nọ, vị tỳ-kheo Vakkali bị bệnh nặng, Ngài nghĩ rằng ta sắp chết rồi, nếu trước khi chết ta chưa gặp đức Thế Tôn để đảnh lễ thì ta không an lòng ra đi. Lúc này vị tỳ-kheo Vakkali mới nhờ một vị khác thỉnh Phật đến thăm mình một lần cuối. Đức Phật nhận lời, chấp nhận đến thăm vị tỳ-kheo Vakkali đang thọ bệnh.

Khi đức Phật đến thăm, Ngài hỏi: “Này Vakkali, trong đời sống Pháp và Luật này, con có vi phạm điều gì không? Trong lòng con có ăn năn hối hận điều gì không khi sống trong Pháp và Luật này?

Tỳ-kheo Vakkali trả lời rằng: “Kính bạch đức Thế Tôn, đối với Pháp và Luật này, con không có vi phạm điều gì, con cảm thấy an lạc giải thoát, nhưng một điều con chưa xả được trong lòng sự mong muốn được đến đảnh lễ đức Thế Tôn. Hôm nay Thế Tôn đến đây, con xin đảnh lễ Ngài”.

Khi tỳ-kheo Vakkali nói xong thì đức Phật trả lời liền: “Thôi, này Vakkali, con đừng có quan tâm đến cái thân thể hôi hám, bất tịnh này của Ta.

Này Vakkali, “Ai thấy Pháp là người đó thấy Ta. Ai thấy Ta là người đó thấy Pháp.

Này Vakkali, “Đang thấy Pháp là đang thấy Ta. Đang thấy Ta là đang thấy Pháp”.

Khi đức Phật vừa trả lời xong câu nói ấy thì tâm ngài tỳ-kheo Vakkali bừng sáng ra, tỏ ngộ ra liền.

Ngài Vakkali suy nghĩ: Như vậy là từ nào giờ mình sống theo những điều đức Thế Tôn chỉ dạy, mình thực hiện đúng Pháp và Luật, đời sống phạm hạnh xả tâm của mình không còn phiền não, đó là Pháp. Tại sao mình ở bên Phật, đang ở bên Ngài mà lại muốn gặp Ngài?

Khi nghe đức Phật dạy, ngài tỳ-kheo Vakkali giác ngộ ra sự thật. Từ nào giờ mình vẫn còn dính mắc với lòng mong muốn được gặp Phật, đó là tâm chưa bất động được.

Trong khi Phật nói “Ai thấy pháp là người đó thấy Ta”, nghĩa là mình sống theo những điều Phật dạy là mình đã đảnh lễ Phật rồi, mình đã cung kính Phật rồi. Tỳ-kheo Vakkali giác ngộ ra, trong lòng không còn khởi mong gặp Phật nữa.

Sau đó đức Phật ra về thì vị tỳ-kheo Vakkali không bao lâu thân hoại mạng chung. Khi vị tỳ-kheo này ra đi, đức Phật nói rằng: “Tỳ-kheo Vakkali vì có lòng tin bất động nơi Ta, sống đúng Pháp và Luật Ta dạy, không làm điều gì sai hết. Vì có lòng tin ấy mà tỳ-kheo Vakkali chứng đạt được thắng tín giải đệ nhất.

Thắng tín giải đệ nhất, tín là lòng tin. Trong Ngũ căn Ngũ lực Phật gọi là tín căn và tín lực. Vị tỳ-kheo Vakkali chứng đạt được Thắng tín giải đệ nhất là một trong các vị đại đệ tử của Phật, đức Phật tán thán ngài tỳ-kheo Vakkali là như vậy.

Cuộc đời của đức Phật có nhiều vị đại đệ tử phải không? Trường hợp như ngài Xá Lợi Phất là trí tuệ đệ nhất, ngài Anan là đa văn đệ nhất, ngài Phú Lâu Na là thuyết pháp đệ nhất hoặc ngài Upali là giới luật đệ nhất. Riêng ngài tỳ-kheo Vakkali này là thắng tín giải đệ nhất, nghĩa là lòng tin bất động nơi Phật, dù sống không gần Phật, xa Phật mà lúc nào cũng nghĩ nhớ đến Phật, thực hiện đúng lời Phật dạy, sống đúng thánh giới, thánh định, thánh tuệ, không vi phạm bất cứ lỗi lầm nhỏ nhặt nào.

Vì tỳ-kheo Vakkali sống đúng các đức hạnh ấy mà dứt trừ phiền não, chứng được thắng tín giải đệ nhất. Sau khi thân hoại mạng chung, tỳ-kheo Vakkali ngay đó hóa sinh nhập vào Niết-bàn, không còn sinh tử nữa.

Qua câu chuyện này chúng ta thấy ý nghĩa lòng tôn kính Phật ở đâu. Trong tâm chúng ta hàng ngày mình thành thật, mình trau dồi, rèn luyện những đức hạnh Phật dạy, sống theo lời Phật dạy, đó là lòng tôn kính Phật. Chứ không phải chúng ta quỳ đảnh lễ Phật hết ngày này qua ngày khác rồi tưởng rằng mình kính Phật. Điều này là không đúng.

Có người thì lạy Phật siêng năng lắm nhưng khi đi ra khỏi điện Phật rồi, ai đến nói câu xúc phạm mình thì trong lòng nổi giận lên liền, phiền não liền. Tâm mình sống phiền não tham, sân, si như vậy thì có ở bên Phật ngày nào không? Mình có kính Phật không?

Cho nên từ trước tới giờ người ta chỉ tu bằng hình thức, người ta nghĩ rằng mình lạy Phật nhiều thì được phước nhiều, được chư Phật phù hộ cho tai qua nạn khỏi. Nhưng thực chất tâm mình còn cấu uế phiền não tham, sân, si, mạn, nghi; chính cái tâm đó nó làm mình khổ. Người nào sống với tâm đó là theo ma mất rồi, không có ở bên Phật ngày nào đâu.

Dù mình có lạy Phật ngàn lạy suốt đời này chăng nữa mà tâm mình vẫn còn ma như vậy, còn tham, sân, si như vậy thì mình không thể gần Phật được ngày nào đâu.

Thầy hỏi quý sư cô và phật tử, trước đây mình siêng năng lạy Phật thì trong tâm mình có hết khổ không?

- Không. Khổ còn nguyên.

Chúng ta tu tập mà không đúng con đường Bát Chánh đạo, lại siêng năng thực hiện những điều sai thì đó là gì?

- Đó là tà tinh tấn.

Hằng ngày mình siêng năng lạy Phật như vậy mà không giải quyết được phiền não của mình, đó là tà tinh tấn.

Ngày xưa đức Phật dạy mình chánh tinh tấn là ở đâu? Đó là siêng năng ngay hiện tại trong tâm mình, luôn nghĩ nhớ những lời Phật dạy.

Lời Phật dạy như thế nào?

Ví dụ: Trong gia đình mình, chồng, con, cha, mẹ, anh, em, mọi người đối xử với mình tệ bạc, ác độc mà mình luôn nhớ lời Phật dạy rồi Như lý Tác ý: “Thôi hãy biết thương xót gia đình mình, gia đình là duyên nợ nhân quả, mọi người đối xử với mình xấu như vậy là họ cũng khổ lắm, mình hãy thương xót, hãy hỷ xả, hoan hỷ, bằng lòng vượt qua nhân quả này. Không nên phiền trách nhân quả, nhân quả này Phật dạy nó vô thường, đủ duyên thì nó hợp, hết duyên nó tan”.

Khi nghĩ nhớ lời Phật dạy như vậy, mình cố gắng siêng năng cần mẫn ngay trong hiện tại quét trừ sạch tâm phiền não thì không còn khổ nữa.

Đó là chánh tinh tấn. Tinh tấn trên những điều hiểu biết chân chánh, chánh kiến, chánh tư duy, chánh mạng, chánh ngữ, chánh nghiệp.

Đó là chánh tinh tấn. Tinh tấn trên sự hiểu biết, trên sự giác ngộ để quét trừ các phiền não tham, sân, si, mạn, nghi của mình. Trong Ngũ căn Ngũ lực đức Phật gọi đó là Tấn căn và Tấn lực.

Tấn căn là gì? Là mình siêng năng trau dồi những điều Phật dạy, học những điều Phật dạy. Khi học những điều Phật dạy, hàng ngày mình phải trau dồi, phải tư duy, phải Như lý Tác ý để những điều Phật dạy càng sâu sắc hơn. Đó là Tấn căn.

Hàng ngày quý phật tử nghe chánh Pháp của Phật, mình trau dồi, học hỏi chánh pháp này, siêng năng nghĩ nhớ những điều Phật dạy. Đó là Tấn căn. Nhờ có Tấn căn nên chúng ta biết vượt qua sóng gió nghiệp lực nhân quả của mình. Đó là Tấn lực.

Tấn lực là gì? Là mình thực thi những điều Phật dạy để vượt biển nghiệp sinh tử của mình giống như đức Phật. Ngài đã cho mình phương tiện rồi, đây là con thuyền Bát Chánh đạo, đây là các pháp hành trợ đạo. Khi mình đã có phương tiện rồi, có con thuyền rồi thì phải nỗ lực, phải lái thuyền, phải siêng năng chèo thì mới qua bờ giác ngộ được. Hành động mình nỗ lực lái thuyền vượt thác lũ để đến bờ giác ngộ. Đó là Tấn lực.

Khi đã hiểu được lời Phật dạy, hàng ngày mình phải thực hành trau dồi siêng năng từng giờ từng phút ngay hiện tại này. Trong tâm mình vừa khởi niệm phiền não là nghĩ nhớ ngay đến điều Phật dạy: “Thôi, các pháp là vô thường, những gì mình tạo trước đây đó là do vô minh, bây giờ ta biết rồi, hãy hỷ xả đi”.

Khi mình tinh tấn lực như vậy thì lập tức phiền não trong tâm tan biến liền. Đó là tấn lực.

Tấn lực là siêng năng từng giờ từng phút ngay hiện tại này mình kiểm soát tâm ý của mình, luôn phản tỉnh tâm ý của mình có còn những điều ác bất thiện pháp nào xảy ra không. Mình hãy gạn đục lắng trong nó, quét cho nó sạch, không còn một cấu uế phiền não tham, sân, si nào trong đó nữa. Đó là tấn lực.

Chánh Tinh tấn và Tinh Tấn lực là như vậy. Chứ không phải như Chánh Tinh tấn từ hồi nào người ta vẫn hiểu là siêng năng niệm Phật hết ngày này qua ngày khác; hoặc lạy Phật hết ngày này qua ngày khác; hoặc là ngồi thiền nhiều giờ, nhiều tháng, nhiều năm. Cái đó không phải là Tinh tấn lực.

Cho nên từ trước tới giờ chúng ta tu là ở hình thức bên ngoài thôi, không phải tu trong tâm mình. Trong khi Phật dạy tu là sửa tại tâm chúng ta. Tâm này không phiền não tham, sân, si, đó là Phật. Ngay đó là Phật bên cạnh mình, cho nên đức Phật nói:

           “Ai thấy pháp là người đó thấy Ta,
           Ai thấy Ta là người đó thấy pháp,
           Đang thấy Pháp là đang thấy Ta,
           Đang thấy Ta là đang thấy Pháp.”

Đức Phật không dạy mình tu ở hình thức bên ngoài. Tu là sửa. Mà mình sửa cái gì? Mình sửa cái tâm của mình. Đức Phật không dạy mình: các con tu tập hàng ngày phải siêng năng lạy Phật, như vậy được chư Phật phù hộ cho tai qua nạn khỏi. Tu như vậy không phải là Tinh tấn. Cách tu như vậy là không đúng, vì mình tu không đúng nên sự khổ vẫn còn nguyên si.

Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú, ví như người bắn tên. Nếu mũi tên này bắn trật đường thì nó đi xa vời không biết nơi nào rớt, nơi nào đậu nữa, nó cứ xa mãi, cứ mông lung, nó không có định hướng rõ ràng. Cũng giống như người tu mà không đúng đường thì tu không biết bao giờ mới dừng lại đây. Tu hết pháp môn này đến pháp môn khác, tu hoài mà khổ vẫn hoàn khổ giống như con kiến bò trên miệng lu, cứ bò vòng vòng hoài không biết đến khi nào dừng lại.

Đức Phật dạy người bắn mũi tên, khi bắn trúng đích rồi thì mũi tên vừa xẹt là dừng ngay liền, giải thoát liền. Pháp của Phật khi tu đúng đích là đi tới giải thoát liền, khi bắn trúng rồi là dứt trừ phiền não, giải thoát ngay liền.

Cho nên Ngài dạy: “Pháp ta thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có quả tức thời, chỉ người trí tự mình giác hiểu”.

Người trí là người biết diệt trừ phiền não tham, sân, si, mạn, nghi bằng pháp Như lý Tác ý thì ác pháp sẽ rơi rụng liền, sẽ đoạn diệt ngay liền, trúng đích liền. Còn trước đây chúng ta tu trật đường phải không? Cho nên tu hoài mà nó cứ đi hoài, cứ miên man không biết phương trời nào dừng lại được. Giống như là mũi tên bắn xẹt, không trúng đích thì nó không biết phương trời nào dừng lại, nó cứ mông lung vô định không bao giờ tới đích giải thoát được.

Chúng ta sinh ra ở đời không có duyên lành gặp được Chánh pháp của Phật thì cuộc đời quả là mông lung. Cho nên trước đây chúng ta cũng tinh tấn, mà tinh tấn không đúng Bát Chánh đạo thì trở thành Tà Tinh tấn hết. Dù mình có siêng năng làm phước, bố thí cúng dường gì chăng nữa; dù mình có siêng năng lạy Phật, tụng kinh gõ mõ, ngồi thiền mà tâm không trừ diệt hết phiền não tham, sân, si, mạn, nghi thì khổ vẫn là khổ.

Trong khi ngày xưa đức Phật dạy mình tu là Chánh niệm Tỉnh giác, Hộ trì các căn, nhìn vào tâm của mình từng giờ từng phút. Ngay hiện tại này mình kiểm soát tâm ý của mình, luôn phản tỉnh tâm ý của mình có còn những điều bất thiện, ác pháp nào xảy ra không. Mình hãy gạn đục lắng trong nó, quét cho nó sạch không còn một chút cấu uế phiền não, tham, sân, si nào trong đó nữa. Sự diệt trừ phiền não này là ngay trong hiện tại này.

Khi tâm mình đang giận ai đó thì mình tác ý: “Thôi, giận là khổ mình khổ người, mình phải biết hỷ xả, phải biết tha thứ” thì ngay đó là hết giận liền, giải thoát ngay liền.

Đức Phật không dạy mình tu là phải lạy Phật, tụng kinh, gõ mõ, ngồi thiền rồi hồi hướng công đức này để tâm mình hết phiền não. Phiền não là tự mình nhận ra cái sai, tự mình gột rửa, tự mình thanh lọc thì mới hết phiền não được. Chứ mình không nhờ cái phước nào để tẩy rửa tâm mình được.

Những việc chúng ta làm công đức lành là mình tạo nhân mới, tương lai mình sẽ hưởng quả phước này. Ví như mình đến chùa cúng dường, bố thí, giúp đỡ người nghèo, sống đạo đức với mọi người. Đó là tạo phước hữu lậu, tương lai mình sẽ được hưởng quả phước hữu lậu này. Giống như mình trồng hạt xoài thì tương lai mình có quả xoài; chứ mình không thể dùng phước hữu lậu này để hồi hướng mong cho mình được tai qua nạn khỏi, gia đình được hạnh phúc là ảo tưởng.

Gia đình được hạnh phúc là do mình diệt trừ phiền não, mình không sân giận ai, không hờn trách hơn thua với ai, không ích kỷ xan tham với ai thì gia đình mình có hạnh phúc. Vô cùng hạnh phúc.

Hạnh phúc này là do mình sống đạo đức với mọi người và những người thân mình nên tự nó có chứ không phải cầu xin Phật phù hộ cho gia đình hạnh phúc thì điều này không thể xảy ra. Trước đây mình thường đến chùa cầu xin Phật phù hộ cho gia đình được hạnh phúc, cho tai qua nạn khỏi; nhưng về nhà mình vẫn sống trong phiền não tham, sân, si, mạn, nghi với mọi người thì mình khổ và gia đình cũng khổ. Chính mình tạo ra cảnh khổ này chứ không ai đem cảnh khổ đến cho mình.

Hôm nay Thầy nói lên sự thật, quý phật tử phải hiểu ra sự thật Chánh pháp này. Nếu mình là người có trí tuệ, mình phải biết vượt qua sóng gió nghiệp lực nhân quả của mình, thực hiện đúng lời Phật dạy pháp Tứ Vô lượng tâm để đưa đến giải thoát, hạnh phúc cho mình và mọi người xung quanh.

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Thế sự  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 03.2017 (Sưu tầm). (14.03.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 02.2017 (Sưu tầm). (24.02.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 01.2017 (Sưu tầm) (05.02.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 22.2016 (Sưu tầm). (25.12.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 21.2016 (Sưu tầm). (14.12.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 20.2016 (Sưu tầm). (24.11.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 19.2016 (Sưu tầm). (04.11.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 18.2016 (Sưu tầm). (21.10.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 17.2016 (Sưu tầm). (06.10.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 16.2016 (Sưu tầm). (24.09.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 15.16 (Sưu tầm). (11.09.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 14.16 (Sưu tầm). (13.08.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 13.16 (Sưu tầm). (27.07.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 12.16 (Sưu tầm). (05.07.2016)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 7 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)