DANH MỤC
  • Thế sự
 
  • Chánh kiến
 
  • Giới luật
 
  • Đại tạng kinh Việt nam
 
  • Tìm hiểu kinh Nikaya
 
  • Dựng lại Chánh pháp
 
  • Nghiên cứu – Đối luận
 
  • Tham vấn – Hỏi đáp  
  • Thư viện
 
 
 
  Cập nhật ngày: 03/06/2017
 
  Cập nhật ngày: 26/05/2017
 
  Cập nhật ngày: 22/10/2016
 
  Cập nhật ngày: 23/08/2016
 
  Cập nhật ngày: 21/08/2015
 
  Cập nhật ngày: 02/04/2015
 
     
 
  • Thư viện thầy Thông Lạc
 
  • Danh mục trên Giọt Nắng Chơn Như.
 
  • Vấn đạo thầy Thích Bảo Nguyên
 
  • TV Chơn Như (YouTube)
 
  • Tu viện Chơn Như
 
  • Chơn Lạc
 
     
     THỐNG KÊ  
  Số người Online: 4  
  Số lượt truy cập: 5832  
     
  Untitled Document
   
 
  Dựng lại Chánh pháp
• PHÁP TU THIỀN XẢ TÂM (11). Thầy Thích Bảo Nguyên.  
Cập nhật ngày : 29.04.2017 (Đã đọc : 484 lần )

TU TẬP CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC – PHẦN 2

(Bài do quý Sư cô vấn đạo Thầy vào ngày 22/1 năm 2017.
TN Tâm Thuận ghi chép theo pháp thoại từ đường dẫn sau:

https://soundcloud.com/thichbaonguyen/tu-tap-chanh-niem-tinh-giac-2 )

Phật tử thưa:

Bài kinh Tương Ưng Bộ, tập I, chương I – THIÊN, có kệ, bài số 6 Tỉnh Giác:

           Đứng một bên vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
           “Có bao nhiêu pháp mê ngủ khi pháp khác tỉnh giác?
           Có bao nhiêu pháp Tỉnh Giác khi pháp khác Mê Ngủ?
           Có bao nhiêu việc làm đưa ta đến trần cấu?
           Có bao nhiêu việc làm khiến ta được thanh tịnh?”

            Thế Tôn đáp:
            “Có 5 pháp mê ngủ khi pháp khác tỉnh giác,
            Có 5 pháp tỉnh giác khi pháp khác mê ngủ,
            Chính có 5 việc làm đưa ta đến trần cấu,
            Chính có 5 việc làm khiến ta được thanh tịnh”

Con xin Thầy hoan hỷ chỉ rõ cho con bài kệ này để cho con hiểu!

Thầy giảng:

Trong bài Kinh Tương Ưng, đức Phật nói về Chánh niệm Tỉnh giác. Trên tâm thức của mình nếu không có Chánh niệm Tỉnh giác thì tâm đó gọi là mê, mê ngủ. Ta thấy người ngủ đâu có biết gì, người mê ngủ thì ai đến động đậy họ không còn biết gì. Trong bài kinh này đức Phật nói lên ẩn dụ, Ngài ví dụ tâm si mê không có Chánh niệm Tỉnh giác (CNTG), tâm đó gọi là mê ngủ. Ví dụ mình đang tham, sân, si, mạn, nghi mà không biết mình  tham, sân, si, mạn, nghi thì đó là mê ngủ.

           Trong bài kệ này đức Phật dạy:
           “Có bao nhiêu pháp mê ngủ khi pháp khác tỉnh giác?
            Có bao nhiêu pháp Tỉnh giác khi pháp khác mê ngủ?
            Có bao nhiêu việc làm đưa ta đến trần cấu
            Có bao nhiêu việc làm khiến ta được thanh tịnh”

Nghĩa là trong tâm của Phật khởi lên niệm thiện, khi nó khởi lên niệm thiện thì đức Phật cũng phải tầm tứ, Ngài cũng phải như lý tác ý để biết rằng niệm này đúng hay sai, cái đó gọi là niệm thiện. Trong đoạn kinh gọi là vị thiên ấy nhưng ở đây mình hiểu rằng đó là niệm thiện của Phật. Khi đức Phật khởi lên một niệm thì Ngài cũng phải tư duy, Ngài hiểu niệm đó cho thấu đáo.

           Khi đó đức Phật trả lời rằng:
           “Có 5 pháp mê ngủ khi pháp khác tỉnh giác,
           Có 5 pháp tỉnh giác khi pháp khác mê ngủ,
           Chính có 5 việc làm đưa ta đến trần cấu,
           Chính có 5 việc làm khiến ta được thanh tịnh.”

Trong bài kinh này, ý đức Phật nói có 5 việc làm đưa ta đến trần cấu, cũng có 5 việc làm đưa ta đến thanh tịnh. Thì 5 việc làm ở đây là chỉ cho 5 pháp ác gọi là ngũ triền cái tham, sân, si, mạn, nghi; hoặc là ngũ kiết sử cũng thuộc về tham, sân, si, mạn, nghi.

Người thế gian, khi tâm chúng ta còn vô minh, si mê thì khi mình hành động theo điều xấu, điều ác mình không thấy. Tâm đó gọi là mê ngủ hay là tâm triền cái, nó không có nhận thức ra hành động việc đó là đúng hay sai. Khi làm sai nó cho là đúng, khi làm đúng cho là sai, tâm đó gọi là mê ngủ. Người mà còn triền cái tham, sân, si, mạn, nghi, khi họ làm điều ác thì chính hành động đó đưa đến đau khổ, đưa đến bất hạnh cho người ấy.

Còn đối với người có chánh niệm tỉnh giác, họ luôn tỉnh giác phòng hộ các căn, trên các căn này các niệm nào thuộc về  tham, sân, si, mạn, nghi thì nó tỉnh giác ra, nó biết rằng niệm này là tham, sân… làm cho ta đau khổ, mọi người đau khổ. Khi mình chánh niệm tỉnh giác, mình tu tập ngăn ác diệt ác như vậy thì dần dần 5 việc làm này, ngũ triền cái không còn tác động làm cho mình khổ, đó là 5 việc làm đưa ta đến thanh tịnh.

Còn đối với người vô minh, những người mê ngủ thì họ luôn tạo ra những điều ác, họ  tham, sân, si, mạn, nghi mà họ không biết mình còn tham, sân, si, mạn, nghi. Những người như vậy phải chịu nhiều đau khổ.

           Cho nên đức Phật dạy:
           “Có 5 việc làm đưa ta đến trần cấu,
            Có 5 việc làm khiến ta được thanh tịnh.”

Cuối cùng, ý đức Phật nói khi mình làm, tạo 5 việc ác tham, sân, si, mạn, nghi thì nó sẽ đưa đến trần cấu trong ta. Và cũng chính trên tâm tham, sân, si, mạn, nghi đó mình biết tu tập ngăn và diệt nó thì tự nó đưa đến thanh tịnh cho ta. Khi mình diệt trừ các điều ác thì tự nó thanh tịnh, nên đức Phật nói có 5 việc làm khiến ta đạt thanh tịnh là như vậy.

Người mà chánh niệm tỉnh giác lúc nào cũng tự phản tỉnh lại chính mình, họ không có hành động theo nghiệp của họ. Khi một lời nói một suy nghĩ là nó luôn biết rằng điều này là thiện hay ác, điều này có làm khổ mình hay không gọi là tỉnh giác. Chỉ có những người tỉnh giác người ta mới tự phản tỉnh lại chính họ, tâm này đang còn làm khổ mình hay không? Còn tham sân si hay không mình phải tỉnh giác ra.

Chỗ này quan trọng vô cùng, thường chúng sinh còn triền cái, còn vô minh thì không bao giờ có chánh niệm tỉnh giác. Họ hành động theo nghiệp, suy nghĩ, lời nói họ không có tầm tứ, không như lý tác ý, không có chánh niệm, nên họ cứ hành theo điều xấu, điều ác thì quả khổ sẽ đến liền. Vì vậy Phật dạy mình tu tập chánh niệm tỉnh giác.

Chánh niệm tỉnh giác là tâm giác tỉnh ra những niệm của mình, niệm này còn tham hay không, sân hay không, si hay không. Nó phải tầm tứ, nó phải hiểu ra cái niệm đó, nó biết rằng nó đang còn tham sân si, mà tham sân si này sẽ làm khổ mình, khổ người. Khi biết như vậy mình tác ý mình xả nó thì mới diệt được cái niệm phiền não của mình.

Khi tu Thầy mới hiểu ra điều này. Lúc đang tu, cái dục tầm trong Thầy rất nhiều, và có lúc Thầy không có chánh niệm (gọi là mê), thì nó dắt Thầy đi, nó giục (hối thúc) Thầy làm cái này làm cái kia, muốn cái này muốn cái kia, cũng như người ngủ mê. Trong bài kinh này Phật gọi là người mê ngủ, Thầy cũng làm theo những việc đó.

Ví dụ lúc bấy giờ nó thích ăn cái này ăn cái kia, Thầy cứ nghĩ đến việc ăn. Rồi một lát, Thầy thấy rằng: “Ủa, Phật dạy mình sống thiểu dục tri túc, ai cúng gì ăn nấy tại sao mình đòi hỏi, mình đòi hỏi mình ăn ngon theo sở thích mình chăng?”  Khi Thầy tầm tứ ra, chánh niệm tỉnh giác ra điều thiện đó thì lúc này mới gọi là chánh niệm tỉnh giác, còn trước đó Thầy không biết ra điều này thì Thầy đang mê ngủ, Thầy đang bị dục tầm gọi là ngũ triền cái tham sân si mạn nghi dẫn mình đi, kéo mình đi theo dục của nó. Nhưng do Thầy chánh niệm, Thầy biết. Khi biết thì Thầy tác ý xả liền, Thầy nói: “Thôi, thức ăn đều bất tịnh cả, vào bụng rồi là bất tịnh cả, có gì ngon đâu, mình hãy bằng lòng, ai cho gì ăn nấy, không có đòi hỏi nữa”. Khi chánh niệm tỉnh giác, Thầy như lý tác ý thì cái niệm dục muốn ăn ngon đoạn diệt ngay liền.

Cho nên chánh niệm tỉnh giác là như vậy. Khi Thầy giảng đến đây cái chánh niệm tỉnh giác và tỉnh thức là hoàn toàn khác nhau.

Chánh niệm tỉnh giác là ông chủ, nó tự biết ra điều thiện, điều ác; điều ác mình ngăn mình diệt, điều thiện mình tăng trưởng, tâm đó gọi là chánh niệm tỉnh giác. Điều ác mình ngăn mình diệt, điều thiện mình tăng trưởng cũng giống như trong bài kệ, đức Phật đang ngồi thì hiện ra một niệm thiên, trong đoạn kinh gọi là niệm thiên nhưng đó là niệm thiện của Phật. Khi khởi niệm đó ra xong thì Ngài chánh niệm liền, Ngài tỉnh giác ra cái niệm đó. Ngài hiểu rằng: “À, nếu mình hành động theo 5 điều ác, ngũ triền cái tham sân si thì sẽ đem đến đau khổ, nếu mình không hành theo nó sẽ mang lại hạnh phúc an vui.” Nếu con người sống theo tham sân si sẽ bị trần cấu, cấu uế. Còn người biết ngăn ngừa 5 triền cái tham sân si mạn nghi thì sẽ được thanh tịnh, tâm sẽ được an lạc giải thoát. Khi Ngài hiểu ra sự thật như vậy thì tâm của Ngài không còn vướng mắc cái niệm đó nữa.

Khi trong tâm thức ta có những niệm gì khởi ra, mình tầm tứ được, thông suốt nó được, mình như lý tác ý nó được thì cái niệm này không còn vướng bận vào ta cái gì nữa, không còn phải nghĩ đến vấn đề đó nữa. Khi khởi niệm mà ta chưa nghĩ ra thì nó cứ vướng mắc hoài, nó cứ lập đi lập lại cái niệm này hoài là lý do nó chưa có tầm tứ, chưa có như lý tác ý để tịnh chỉ cái niệm ấy.

 Trong Sơ thiền đức Phật đã dạy: “Một vị chứng Sơ thiền có 5 quả: tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm”. Nghĩa là trong tâm của hành giả có những niệm gì khởi ra thì đều có tầm tứ, nó hiểu ra như thật hết: “Đây là thiện, đây là ác. Điều thiện thì mình tăng trưởng, điều ác thì mình trừ diệt”. Nó trạch pháp ra rõ ràng như vậy. Khi hiểu rồi thì nó xả ngay, không còn vướng bận cái niệm trong đầu mình nữa thì tâm chúng ta ngay đó là định liền. Phật gọi là nhất tâm, nhất tâm là định.

Nhờ có tầm tứ, nhờ có như lý tác ý, đã hiểu ra như thật thì mình không còn phải vướng bận cái niệm đó nữa, và xả ngay liền. Một khi đã xả thì tâm của ta được an lạc, nhất tâm. Phật gọi là an lạc và nhất tâm. Khi mình buông xả thì tâm của mình thanh thản liền, an lạc liền, đồng thời tâm mình không còn phóng dật, không còn vướng mắc cái niệm đang khởi ra trong đầu, đó là nhất tâm. Nhất tâm là trạng thái định tĩnh, trạng thái không còn trạo cử, không còn phóng dật, không còn dao động cái niệm trong đầu của ta.

Cho nên, khi mình tu chánh niệm tỉnh giác là pháp quan trọng vô cùng! Người không có chánh niệm tỉnh giác một phút thì tạo nghiệp một phút, mà tạo nghiệp là do không có chánh niệm tỉnh giác. Còn người có chánh niệm tỉnh giác biết làm chủ tâm ý, trên chánh niệm tỉnh giác thì giác ngộ những điều Phật dạy một cách rõ ràng thông suốt, không còn mơ hồ cái gì. Khi thông hiểu rõ ràng rồi thì tự nó ngăn và diệt ác pháp.

            Trong bài kinh Tứ Chánh Cần, đức Phật dạy:
            “Ngăn ác, diệt ác những điều ác chưa sinh,
             Ngăn ác, diệt ác những điều ác đã sinh”.

Người tu tập Tứ Chánh Cần đó là tu tập chánh niệm tỉnh giác, tu tập pháp phòng hộ. Chánh niệm tỉnh giác là hiểu hết nhân quả các pháp, hiểu hết sự thật khổ và nguyên nhân khổ. Tu tập chánh niệm tỉnh giác có pháp hành và phương pháp tu tập hướng đến diệt khổ một cách rõ rang. Cho nên người này khi có bất cứ một niệm bất thiện nào, ác pháp nào tác động đến thân và tâm thì họ luôn chánh niệm tỉnh giác, như lý tác ý, hiểu ra hết mọi sự thật nhân quả. Khi hiểu hết thì họ buông xả liền, tâm họ sẽ được bất động liền. Tâm đó Phật gọi là định, là nhất tâm, tâm không còn dao động, không còn phiền não với nhân quả và ác pháp đang xảy ra. Tâm đó là nhất tâm, tâm đó gọi là định. Một khi mình sống được như vậy thì vô cùng hạnh phúc, mình không có khổ.

Sở dĩ mình thấy Phật và các bậc thánh tăng A-la-hán, các ngài không có khổ vì các ngài có chánh niệm tỉnh giác, có tầm tứ, có như lý tác ý. Bất cứ một niệm nào xảy ra nơi tâm, các nhân quả nào tác động đến thân tâm thì các ngài thông suốt hết. Khi thông suốt thì các ngài hướng đến xả ly, không còn chấp thủ nữa. Trong 7 giác chi Phật gọi là Xả giác chi.

Khi tâm hiểu ra là nó xả ngay, nó không còn chấp trước, không còn vướng mắc vấn đề gì nữa thì tâm đó gọi là định, đồng thời tâm đó là bất tử, là Niết-bàn. Cho nên khi mình hiểu pháp Phật rõ ràng rồi thì việc tu của mình nhẹ nhàng lắm, nó không có thời gian tu, pháp tu này không có thời gian. Thời gian của nó là gì? Là chánh niệm tỉnh giác, mà chánh niệm tỉnh giác thì không có thời gian. Vì vậy đức Phật đạy: “Pháp ta không có thời gian, đến để mà thấy”.

Cái “Không có thời gian, đến để mà thấy” đó là chánh niệm tỉnh giác. Chỉ người có chánh niệm tỉnh giác mới thấy rằng họ đang tạo nghiệp, họ đang làm khổ họ, khổ chúng sinh và họ biết xấu hổ, họ biết sợ hãi và họ biết buông xả các niệm xấu ấy thì ngay đó là tu. Tu trên chánh niệm tỉnh giác. Còn người mê, ngủ mê thì người này không có chánh niệm tỉnh giác, họ luôn sống trong đau khổ, luôn sống trong ác pháp phiền não. Cho nên họ cứ đau khổ mãi.

Vì vậy đức Phật dạy: “Chính có 5 việc làm đưa ta đến trần cấu” là như vậy. Những người vô minh, si mê, thiếu chánh niệm tỉnh giác thì họ mới làm việc ác, họ mới làm việc xấu, họ mới tạo nghiệp, chính họ tạo nghiệp thì họ đem lại đau khổ cho chính họ. Còn chúng ta sống theo Phật, là người có chánh niệm tỉnh giác, có phòng hộ các căn, có hiểu ra nhân quả cho nên đã hiểu biết và buông xả hết, không có chấp giữ gì trong tâm thì tâm đó là tâm tịnh, tâm đó là mọi trần cấu đoạn diệt. Đồng thời tâm đó Phật dạy là: “Tâm vô lậu niết bàn, không còn sinh tử”.

Cuối cùng, pháp tu của Phật dạy là ngay tại tâm chánh niệm tỉnh giác của ta. Chánh niệm tỉnh giác nó không có thời gian, nó tu ngay hiện tại tức thời. Cái tâm mình đang suy nghĩ điều gì thì kệ nó, mình cứ cho nó suy nghĩ. Chỉ cần ngay hiện tại mình quan sát tâm xem mình đang suy nghĩ điều nào, có còn tham hay không? Còn phiền não hay không? Còn đau khổ hay không? Rồi ngay cái tâm đang suy nghĩ đó mình tỉnh giác nó ra. Khi mình tỉnh giác thì ngay đó mình như lý tác ý, tác ý buông xả nó. Tâm đó là thanh tịnh liền. Đó là tu. Tu là không có thời gian, người sống với tâm đó Phật gọi là không có mê ngủ, người đó là chánh niệm tỉnh giác.

Hằng ngày chúng ta cứ tu tập rèn luyện pháp phòng hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác thì lâu dần nó tạo thành năng lực giải thoát của ta, gọi là ý thức lực. Khi nó trở thành năng lực ý thức lực thì tâm mình đặc biệt lắm, tự nó hiểu ra mọi vấn đề, tự nó tầm tứ, tự nó như lý tác ý, không còn phải giống như trước đây phải cố gắng mình mới chánh niệm tỉnh giác. Lúc đầu khi mình mới tu thì có lúc nó chánh niệm tỉnh giác, có lúc nó không chánh niệm tỉnh giác. Khi mình mới tu thì nó chưa có năng lực giải thoát này. Có lúc thì nó nhớ, có lúc thì nó quên. Lúc nhớ thì mình ngăn mình diệt ác pháp, lúc quên thì mình trôi lăn theo vòng nghiệp lực ngũ triền cái tham sân si. Đức Phật dạy mình cứ kiên nhẫn, kham nhẫn vượt qua nghiệp (nhân quả) của mình. Thì hằng ngày do mình tu tập, mình rèn luyện pháp chánh niệm tỉnh giác như vậy thì lâu dần nó tạo thành năng lực giải thoát của tâm. Đến đây những trần cấu, triền cái tham sân si từ từ nó đoạn diệt thì trên cái tâm này tự nhiên nó chánh niệm tỉnh giác, có niệm gì khởi ra nó đều biết hết.

Đến đây không ai dạy, mình cũng không mất công suy nghĩ điều này để cho mình hiểu nữa, đến đây trở thành quả của nó. Trong quả Sơ thiền, Phật dạy: “một vị đoạn trừ được 5 triền cái tham, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi thì vị này đạt được 5 quả của Sơ thiền là tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm”. Đến đây cái tầm, tứ chỉ cho là chánh kiến, là chánh tư duy của ta, nó sáng suốt lắm, nó không còn bị mê ngủ, không còn bị triền cái vô minh, tham sân si nào che mờ tâm mình nữa. Bất cứ một niệm gì khởi ra là nó hiểu ngay hết, thông suốt hết, khi thông suốt là nó tác ý xả ngay, xả tức thời. Đến đây quả giải thoát của ta nó nhanh lắm, giống như cái máy tự động automatic. Khi mà tâm mình khởi lên một ác pháp nào thì lập tức nó hiểu ngay, nó tầm tứ ngay liền. Khi nó tầm tứ thì nó hướng đến xả liền, tứ là xả đó. Tầm là hiểu ra, khi hiểu ra thì mình tứ liền, xả liền. Khi xả thì tâm mình thanh thản an lạc, nhất tâm ngay tức thời, nó nhanh lắm. Cho nên một vị chứng pháp Sơ thiền thì vị này sống an lạc giải thoát từng giờ từng phút, từng ngày, từng tháng, từng năm, và chúng sẽ ở với mình suốt đời, người này không bao giờ làm cho ai khổ được.

Phật tử thưa:

Dạ kính bạch Thầy, con nhớ có một bữa, có một vị hỏi con khi ở trạng thái Sơ thiền là người ta đang ở quả của Tứ Niệm xứ có phải không ạ?

Thầy giảng:

Khi ở trạng thái Sơ thiền là quả của 4 Niệm xứ, nó là sung mãn 4 niệm xứ. Sung mãn 4 niệm xứ chẳng qua là nó nhiếp trừ được 5 triền cái: tham, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi. Nó không còn phiền não tham, sân, si, mạn, nghi nữa gọi là sung mãn 4 Niệm xứ. Khi sung mãn 4 niệm xứ thì trên đây tâm mình nó sáng suốt lắm, nó sống với hiện tại, gọi là hiện tại an lạc trú chánh niệm tỉnh giác định. Khi nó sống như vậy một thời gian thì các năng lực giác chi tự nó sáng ra hết. Năng lực giác chi này nó không phải sáng một ngày một giờ, mà nó sáng suốt cả đời, gọi là 7 năng lực giải thoát. Sự giải thoát của năng lực 7 giác chi, khi mình chứng đạt được năng lực này là nó ở với mình suốt đời, và mình càng sống với nó thì mình càng sung mãn, càng đưa đến quảng đại.

Sở dĩ mình thấy trí tuệ của đức Phật siêu việt là như vậy, chánh pháp của Ngài càng giảng thì nó càng sâu sắc. Vì vậy trong kinh Phật dạy: “Ta thiện xảo đời đầu, ta thuần thục Đạo”. Đạo là Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và các pháp hành trợ đạo một cách rành mạch và thông suốt nhờ năng lực 7 giác chi. Cho nên khi mình sung mãn 4 niệm xứ thì năng lực 7 giác chi này nó được sung mãn, nó gắn với mình suốt đời và mình triển khai trí tuệ này suốt đời.

Người chứng Sơ thiền là giải thoát, người chứng Sơ thiền thì mình hiểu người này họ sống không bị kẹt vào nhân quả, họ không còn bị phần kiết sử phiền não nào tác động làm cho họ khổ được.

<<Quay lai
Gửi cho bạn bè Trang in
 
     
  Các bài viết khác của chủ đề Thế sự  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 05.2017 (Sưu tầm). (19.05.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 04.2017 (Sưu tầm). (18.04.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 03.2017 (Sưu tầm). (14.03.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 02.2017 (Sưu tầm). (24.02.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 01.2017 (Sưu tầm) (05.02.2017)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 22.2016 (Sưu tầm). (25.12.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 21.2016 (Sưu tầm). (14.12.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 20.2016 (Sưu tầm). (24.11.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 19.2016 (Sưu tầm). (04.11.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 18.2016 (Sưu tầm). (21.10.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 17.2016 (Sưu tầm). (06.10.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 16.2016 (Sưu tầm). (24.09.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 15.16 (Sưu tầm). (11.09.2016)  
     •  HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI - 14.16 (Sưu tầm). (13.08.2016)  
   
  TRANG : 1 | 2 | 3 | 4 | 5 ...[Next 5 of 7 pages] ...
     
 
   
 
   
Trang Chủ   |   Thư Ngỏ   |   Diễn Đàn   |   Liên hệ   |     Quản lý |  

 

©2012- Bản quyền thuộc GIỌT NẮNG CHƠN NHƯ
Email: banbientapgiotnangchonnhu@gmail.com
(Ghi rõ nguồn khi sử dụng tư liệu bài viết trong website này)